Lãi suất cơ bản
Lãi suất cơ bản nội tệ là một trong các công cụ
của chính sách tiền tệ, do Thống đốc Ngân hàng Trung ương (NHTƯ) điều hành. Căn
cứ vào lãi suất cơ bản, các ngân hàng thương mại (NHTM) định ra lãi suất huy
động vốn và Lãi suất cho vay của mình.
Tùy theo trình độ quản lý kinh tế vĩ mô của mỗi nước hoặc vùng
lãnh thổ mà Thống đố NHTƯ có cách điều hành lãi suất cơ bản khác nhau. Cục Dự
trữ liên bang Mỹ (NHTƯ - Fed) điều hành lãi suất cơ bản bằng lãi suất cho vay
qua đêm giữa Fed với NHTM hoặc NHTM với nhau, vì nước Mỹ có hai loại ngân hàng
thương mại. Ngân hàng thương mại tiểu bang và Ngân hàng Thương mại liên bang.
Một số ngân hàng tư như ở Châu Âu điều hành lãi
suất cơ bản bằng lãi suất liên ngân hàng - lãi suất cho vay ngắn hạn giữa các
NHTM với nhau. NHTƯ Trung Quốc, NHTƯ cộng hòa Pháp... điều hành lãi suất cơ bản
bằng, khung lãi suất (intérêt cadré). Vậy “Khung lãi suất” nghĩa là gì? “Khung
lãi suất”, gồm: a/ Lãi suất thấp nhất huy động vốn kỳ hạn 12 tháng của NHTM -
gọi là “sàn lãi suất”, nhằm đảm bảo quyền lợi bên gửi tiền; b/ Lãi suất cao
nhất cho vay ngắn hạn của NHTM, gọi là “trần lãi suất”, nhằm bảo vệ quyền lợi
bên vay tiền. Từ “sàn” đến “trần”, là “khung lãi suất”. Mỗi NHTM của một số
nước được nâng “sàn” và hạ “trần” lãi suất. Hai hành vi ấy có lợi cho bên gửi
tiền và bên vay tiền, nhưng NHTM bị giảm lãi suất. Ngoài ra, mỗi NHTM có quyền
quy định lãi suất huy động vốn dưới 12 tháng; lãi suất huy động vốn từ 12 tháng
trở lên (trung, dài hạn) và lãi suất cho vay trung dài hạn, theo biên độ do
NHTƯ quy định.
Hiện nay, NHTƯ Trung Quốc không cho các NHTM nâng
“sàn lãi suất”, nhưng được hạ “trần lãi suất” tối đa 10%, riêng cho vay tiêu
dùng được hạ “trần lãi suất” 30%.
Từ ngày 15/9/2007 đến ngày 27/11/2008, NHTƯ Trung
Quốc 4 lần hạ “khung lãi suất”, trong đó “sàn lãi suất” từ 3.87% năm hạ xuống
2,52% năm; “trần lãi suất” từ 7,29% năm hạ xuống 5,58% năm. Chênh lệch giữa
“trần lãi suất” với “sàn lãi suất” từ 3,42% năm (7,29% - 3,87% = 3,42%) hạ
xuống 3,33% năm (5,58% - 2,52% = 3,06%).
Năm 2007, Trung Quốc lạm phát 4,8% năm, người gửi
tiền NHTM kỳ hạn 12 tháng, chỉ có lãi suất danh nghĩa mà không có lãi suất
thực. Tức là “sàn lãi suất” nhỏ hơn tỷ lệ lạm phát/năm-0.93%/năm (3,87% - 4,8%
= -0,93%/năm) và năm 2008 cũng tương tự như năm 2007.
Thống đốc NHTM Việt
Từ 1/8/1998, Luật Ngân hàng nhà nước (NHHN) có
hiệu lực, Thống đốc NHHN VIệt
Đầu năm 2008, Thống đốc NHNN Việt Nam đề nghị
UBTV Quốc sửa Khoản 1, Điều 476, Bộ Luật dân sự năm 2005. UBTV Quốc hội không
chấp nhận, vì Khoản 12, Điều 9, Luật NHNN là cơ sở cho Khoản 1, Điều 476,
Bộ Luật dân sự năm 2005. Như vây, Khoản 1, Điều 476, Bộ Luật dân sự năm
2005, áp dụng khi bên cho vay không phải là NHTM. Lãi suất huy động vốn và lãi
suất cho vay phải dựa vào lãi suất cơ bản của NHNN Việt
Khoản 1, Điều 1, Quyết định 16/2008/QĐ-NHNN ngày
16/5/2008 của Thống đốc NHNN Việt Nam về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng
đồng Việt Nam, viết: “Các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh
(lãi suất huy động, lãi suất cho vay) bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng
không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố để áp
dụng trong từng thời kỳ”. NHNN Việt Nam soạn thảo Quyết định trên không
rõ ràng, nên giám đốc chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT huyện Gia Lâm (Hà Nội)
huy động vốn ngắn hạn với lãi suất 21%năm.
Từ ngày thành lập Ngân hàng quốc gia (6/5/1951),
nay là NHNN Việt
Thống đốc NHNN đưa ra lãi suất cơ bản cao, khiến Bộ Tài
chính phát hành trái phiếu Chính phủ hoặc trái phiếu công trình và Kho
bạc Nhà nước phát hành tín phiếu Kho bạc gặp nhiều khó khăn. Năm 2008, Bộ Tài
chính tổ chức đấu thầu trái phiếu Chính phủ nhiều phiên không thành công; tín
phiếu Kho bạc hầu như tê liệt.
Nước ta lạm phát quá cao, nhưng mang nội dung trì
trệ. Biểu hiện hàng hóa không thiếu, nhưng sức mua của dân chúng giảm, dẫn đến
sản xuất đình đốn. Biện pháp chống lạm phát của NHTƯ chủ yếu bằng tỷ lệ tiền
gửi dự trữ bắt buộc cao hay thấp.
Và những kiến nghị
Để nâng cao vị thế NHTƯ, Thống đốc NHNN Việt Nam nên
điều hành lãi suất cơ bản bằng “khung lãi suất”, trong đó “sàn lãi suất” ở mức
5%/năm; “trần lãi suất” ở mức 8,5%/năm. Nếu làm được như vậy, các thành phần
kinh tế sẽ tiếp cận vốn vay từ các tổ chức tín dụng; góp phần tăng trưởng GDP;
các NHTM cạnh tranh lãi suất huy động vốn và cho vay trong phạm vi “khung lãi
suất”, trong đó có “lãi suất thỏa thuận”.

09-07-2010 - Chỉ nộp một lần thuế chuyển quyền sử dụng đất nếu có giấy tờ hợp lệ
07-07-2010 - Phải dùng thuế để kiểm soát bất động sản
28-06-2010 - Thị trường tài chính Việt Nam :

